Chất chuẩn mỹ phẩm- tìm hiểu về mỹ phẩm

facebook-sbc.png   wordpress-logo.png   twitter-16x16.png   youtube-16x16.png   google-plus-icon.png   pinterest-logo-16x16.png   blogger-16x16.png   google-sites.PNG  sbc-logo-16x16.jpg
chất chuẩn mỹ phẩm 2

Trong thế giới hiện đại với nhu cầu làm đẹp đòi hỏi ngày càng nhiều và chất lượng cao hơn thì giới nghiên cứu cũng phải đau đầu tìm ra các công thức mới cho mỹ phẩm, Các chuyên gia trong quá trinh thử nghiệm sẽ sử dụng các chất chuẩn Mỹ phẩm để thí nghiệm, so sánh, đối chiếu.

Mỹ phẩm là những chất dùng để tăng sự hấp dẫn từ ngoại hình hay mùi hương cơ thể. Mỹ phẩm tổng hợp rất nhiều chất, có một vài chất được chiết xuất từ thiên nhiên, cũng có vài chất được tổng hợp nhân tạo. Các chất chuẩn trong mỹ phẩm cũng rất quan trọng, nó được dùng để thí nghiệm, kiểm tra độ chuẩn của sản phẩm, vì càng ngày người ta yêu cầu các sản phẩm có chất lượng cao ngày càng cao.   Cũng có định nghĩa khác về mỹ phẩm, là chất được sử dụng cho cơ thể để làm sạch, làm đẹp, làm tăng độ hấp dẫn, hay những thay đổi bên ngoài mà không ảnh hưởng tới cấu trúc hoặc chức năng cơ thể.

Người Sumer 5,000 năm về trước đã phát minh ra son môi. Họ nghiền đá quý và sử dụng chúng để trang trí cho khuôn mặt, chủ yếu là môi và xung quanh mắt. Cũng khoảng năm 3000 trước Công nguyên đến 1500 trước Công nguyên, phụ nữ trong cổ Indus Valley Civilization áp dụng son môi màu đỏ nhuộm màu để đôi môi của họ để trang trí mặt. Ai Cập cổ đại chiết xuất chất màu đỏ từ fucus-Algin, 0,01% iod, và một số mannite brom, nhưng thuốc nhuộm này dẫn đến bệnh nghiêm trọng. Son môi với các hiệu ứng lung linh ban đầu đã được sử dụng bằng cách sử dụng chất pearlescent tìm thấy trong vảy cá cổ 6.000 năm tuổi ở lăng mộ của các pharaoh Ai Cập cổ đại. Cũng có nguồn cho rằng, thời kỳ đầu mỹ phẩm bao gồm:

  • Kohl sử dụng của Ai Cập cổ đại là một bảo vệ của kohl mắt
  • Dầu thầu dầu được sử dụng bởi Ai Cập cổ đại là một dưỡng bảo vệ.
  • kem bôi da làm bằng sáp ong, dầu ô liu, và rosewater, mô tả của người La Mã.
  • Vaseline và lanolin trong thế kỷ XIX.

Mỹ phẩm được sử dụng bên ngoài cơ thể. Chúng có thể được sử dụng cho khuôn mặt: kem dưỡng da, dùng cho mắt, trang điểm khuôn mặt; sử dụng cho cơ thể: chất khử mùi, kem dưỡng da, nước hoa, sản phẩm trẻ em, dầu tắm; cho móng tay chân: sơn móng tay; cho tóc: thuốc nhuộm, gel vuốt tóc, gel dưỡng tóc.

Vào thế kỷ 20, sự phổ biến của mỹ phẩm tăng lên nhanh chóng. Các thiếu nữ tuổi teen rất ưa chuộng đặc biệt ở Mỹ. Do đó, cũng có rất nhiều công ty bắt kịp xu hướng như Rimmel với các sản phẩm cao cấp như Estee Lauder, phục vụ cho thị trường mở rộng này bằng cách giới thiệu son môi thơm và nhũ, mỹ phẩm đóng gói trong lấp lánh, bao bì lấp lánh và tiếp thị quảng cáo sử dụng hình ảnh gương mặt trẻ thanh tú.

Tại Mỹ các sản phẩm mỹ phẩm được quy định bởi FDA theo FD&C 201. Theo đó, bán những mỹ phẩm kém an toàn là trái pháp luật. EU và các cơ quan quản lý khác cũng ban hành luật tương tự. FDA không phê chuẩn hay xem trước các sản phẩm được bán ra công chúng, họ chỉ quản lý màu được sử dụng trong mỹ phẩm và thuốc nhuộm tóc. Công ty mỹ phẩm không phải tường trinh những trường hợp tổn thương do mỹ phẩm, họ chỉ có trách nhiệm tự thu hồi sản phẩm của mình lại.

Hiện đã có một xu hướng tiếp thị hướng tới việc bán mỹ phẩm thiếu các thành phần gây tranh cãi, đặc biệt là những người có nguồn gốc từ dầu mỏ, sodium lauryl sulfate (SLS), và paraben. Nhiều báo cáo đã nêu lên mối quan ngại về sự an toàn của một vài hoạt động bề mặt, bao gồm 2 butoxyethanol. SLS gây ra một số vấn đề về da, trong đó có viêm da.

Paraben có thể gây kích ứng da và viêm da tiếp xúc ở những người bị dị ứng với paraben, một tỷ lệ nhỏ trong dân số nói chung. Thí nghiệm trên động vật đã chỉ ra rằng parabens có hoạt tính estrogen yếu, hoạt động như xenoestrogens. Trong năm 2013, khoa học của EU Ủy ban an toàn tiêu dùng (SCCS) xem xét các dữ liệu an toàn mới nhất về paraben và tuyên bố họ là vô hại ở các mức độ được sử dụng trong mỹ phẩm

Nước hoa tổng hợp được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm tiêu dùng. Nghiên cứu kết luận từ bản vá thử nghiệm cho thấy loại nước hoa tổng hợp được làm từ nhiều thành phần gây dị ứng.

Balsam Peru là xem là thành phần nước hoa gây dị ứng trước năm 1977, hiện vẫn vậy. Sự hiện diện của Balsam Peru trong mỹ phẩm sẽ được biểu hiện bằng các INCI- Myroxylon pereirae. Trong một số trường hợp, Balsam Peru được liệt kê trên nhãn thành phần của một sản phẩm của một trong những tên khác nhau của nó, nhưng nó có thể không được yêu cầu để được liệt kê theo tên của nó bởi ước ghi nhãn bắt buộc (trong nước hoa, ví dụ, nó có thể chỉ đơn giản là được bao phủ bởi một danh sách thành phần của “hương thơm”).

Các công ty mỹ phẩm  bị chỉ trích vì làm cho tuyên bố giả khoa học về các sản phẩm của họ mà gây hiểu lầm hoặc không được hỗ trợ bằng các chứng cứ khoa học.

Mỹ phẩm chiết xuất từ động vật thường gây tranh cãi vì liên quan đến lượng chất độc, kích ứng mắt và da và gây ra những đột biến.

chất chuẩn mỹ phẩm

Về Thành phần mỹ phẩm:

Một loạt các hợp chất hữu cơ và các hợp chất vô cơ có trong các mỹ phẩm điển hình. Các hợp chất hữu cơ điển hình được thay đổi các loại dầu tự nhiên và chất béo, cũng như một loạt các gốc có nguồn gốc dầu hỏa. Hợp chất vô cơ được chế biến khoáng sản như sắt oxit, bột talc, và oxit kẽm. Các oxit kẽm và sắt được phân loại như các sắc tố, nghĩa là màu mà không có khả năng hòa tan trong các dung môi.

Thành phần tự nhiên:

Handmade và sản phẩm hữu cơ được chứng nhận đang trở nên nổi tiếng hơn. Sản phẩm là hữu cơ nên, tại Hoa Kỳ, được chứng nhận bởi “USDA Organic “.

Thành phần khoáng:

Thuật ngữ “ trang điểm khoáng” được áp dụng cho mặt, bao gồm viền mắt, má, và bột bronzer được làm từ bột khoáng khô. Bột thường được trộn với nước dầu nhũ hóa. Son môi, kem nền, chì kẻ mắt,  thường được gọi là mỹ phẩm trang điểm khoáng nếu chúng có Thành phần chính như khoáng khô. Tuy nhiên mỹ phẩm dạng lỏng thường có chất bảo quản và kết dính mà các loại khoáng khô không có. Mỹ phẩm khoáng thường không có hương tổng hợp, chất bảo quản, paraben, dầu khoáng và các thuốc nhuộm. Do đó, các bác sỹ da liễu có thể xem xét các mỹ phẩm khoáng cho bệnh nhân.

Lợi ích:

Mặc dù một số Thành phần có thể gây tranh cãi nhưng một số cũng có lợi. Titanium dioxide, được tìm thấy trong kem chống nắng, và oxit kẽm có tính kháng viêm, makeups khoáng với những thành phần có thể có tác dụng làm dịu trên da, trong đó đặc biệt quan trọng đối với những người bị các vấn đề gây viêm như trứng cá đỏ. Kẽm oxit là chống vi khuẩn, như vậy makeups khoáng có thể có lợi cho những người bị mụn trứng cá.

Nguồn tham khảo Wikipedia

Để mua chất chuẩn Mỹ phẩm, xin vui lòng liên hệ:
CTY TNHH TMDV KHOA HỌC SBC VIETNAM
Hotline: 0945677929
SDT: 0868400109
Email: info@sbc-vietnam.com